關山月
由來征戰地,
不見有人還。
戍客望邊色,
思歸多苦顏。
高樓當此夜,
嘆息未應閒。
李白
.
Quan san nguyệt
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan.
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.
Lí Bạch
.
Chú thích
由來 do lai: từ trước đến nay.
戍客 thú khách: chỉ người lính thú
邊色 biên sắc: cảnh sắc nơi biên ải. Có bản ghi 邊邑 biên ấp: vùng đất nơi biên ải.
思歸 tư quy: nghĩ đến ngày về, nhớ quê nhà.
高樓 cao lâu: lầu cao, trong thơ xưa là ẩn dụ nơi phụ nữ quý tộc ở; ở đây chỉ người chinh phụ.
嘆息 thán tức: thở dài.
未應 vị ưng: không phải, không hẳn
Đây là nửa sau của bài thơ ngũ ngôn cổ phong Quan sơn nguyệt của Lí Bạch, nhà thơ thời Thịnh Đường bên Tàu..
.
Nghĩa
Trăng nơi quan ải
Xưa nay nơi bãi chiến trường,
Không thấy có ai trở lại.
Người lính thú nhìn cảnh sắc biên ải,
Nghĩ đến ngày về mà nét mặt buồn khổ.
Đêm nay người chinh phụ trên lầu cao,
Ngồi thở dài chứ hẳn chẳng nhàn nhã.
.
Tạm dịch
Xưa nay nơi chiến địa,
Không thấy có ai về.
Đứng nhìn trời biên ải,
Tráng sĩ mặt ủ ê.
Đêm nay nơi gác tía
Lòng ai cũng não nề.
.
Đọc thêm một số bản dịch thấy trên mạng
.
Xưa nay người lính trận
Được mấy ai quay về?
Mắt trông vời biên ải
Nghe lòng buồn tái tê
Trên lầu cao chinh phụ
Tiếng thở dài lê thê.
Phan Quỳ
.
Xưa nay nơi chiến địa
Mấy kẻ về an toàn
Khách thú ngắm biên tái
Nhớ nhà mặt khổ nhăn
Lầu cao đương tối đấy
Có kẻ không ngừng than
Đông A
.
Xưa nay nơi chiến địa
Không thấy ai về làng
Lính thú trông biên giới
Nhớ quê khó muôn vàn
Đêm nay trên lầu cao
Không sao ngừng thở than
Trần Trọng San
.
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người ?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.
Tản Đà.
.
Quan sơn nguyệt.
Hòa tẩu nhạc cụ truyền thống của Tàu